RSS

Cờ vàng ba sọc đỏ biểu tưởng cho cái gì?

07 Feb

CXN

Lá cờ vàng ba sọc đỏ tượng trưng cho chế độ VNCH được những người chống Cộng lúc nào cũng giương cao như là một biểu hiệu cho “chính nghĩa sáng ngời” của họ cho dù cái chế độ kia đã cáo chung gần 40 năm rồi – Trong các buổi họp hành của các hội đoàn, đoàn thể thuộc các thành phần trong quân độI và chính quyền của chế độ cũ, và những buổi họp mặt của các hội đồng hương đều có màn chào quốc kỳ, quốc ca: “Này công dân ơi quốc gia đến ngày giải phóng, đồng lòng cùng đi hy sinh tiếc gì thân sống…” nghe sao mà nhàm tai, lạc điệu hết chỗ nói!

Đọc mấy cái “BÌNH LOẠN” của CXN (Cờ.. hó.. xứ người) mà thấy được đầy đủ cái khốn nạn của đám tay sai ngụy quyền xưa chưa biết hối cải, đúng là “không ăn được thì đạp đổ” cho nên “thèm ăn giả gắp cho người” là bản chất của đám VNCH (Vong Nô Chó Hoang) – Đấy là Human Rights Watch ?

Tôi chẳng có thời gian để mà viết về mấy cái con cờ.. hó này nên sưu tầm những bài viết của các bạn yêu nước trên mạng đã viết về chúng, cái giống mà trong thế giới văn minh ngày nay họ vẫn chưa biết đặt tên cho chúng là giống gì?


Lá cờ vàng ba sọc đỏ tượng trưng cho chế độ VNCH được những người chống Cộng lúc nào cũng giương cao như là một biểu hiệu cho “chính nghĩa sáng ngời” của họ cho dù cái chế độ kia đã cáo chung gần 40 năm rồi. Trong các buổi họp hành của các hội đoàn, đoàn thể thuộc các thành phần trong quân độI và chính quyền của chế độ cũ, và những buổi họp mặt của các hội đồng hương đều có màn chào quốc kỳ, quốc ca. “Này công dân ơi quốc gia đến ngày giải phóng, đồng lòng cùng đi hy sinh tiếc gì thân sống…” nghe sao mà nhàm tai, lạc điệu hết chỗ nói! Tiếng hát cất lên như con vẹt mà trái tim và khối óc của những người hát không ăn nhập gì với ý nghĩa của lời ca. Lá cờ này cũng được sử dụng không những trong các cuộc biểu tình chống đối nhà nước VN mà còn trong các cuộc biểu tình giữa bọn họ tố cáo, chống báng, chụp mũ lẫn nhau.Thây ma “VNCH” đã thối rữa từ lâu rồi mà cái lá cờ đại diện cho nó vẫn cứ rình rang nhảy múa ở nhiều nơi nằm ngoài VN.

Vậy hãy nhìn lại quá khứ, xem xét thật minh bạch và khách quan coi thử lá cờ vàng ba sọc đỏ này có thật sự là biểu tượng cho cái “chính nghĩa sáng ngời” đã được rêu rao hay không.

Trước tiên, lá cờ vàng ba sọc đỏ là hậu thân của lá cờ nền vàng có hình quẻ Ly màu đỏ sẩm ở giữa của chính phủ Trần Trọng Kim được thành lập chỉ tồn tại vổn vẹn bốn tháng từ tháng 4 năm 1945 đến tháng 8 năm 1945 dưới sự bảo hộ của đế quốc Nhật, nghĩa là xuất thân của lá cờ này cũng bắt đầu bằng cái tấm thân bù nhìn, lệ thuộc vào ngoại bang. Rồi cái sọc đỏ bị gãy ở giữa được nối liền để trở thành cờ VNCH biểu tượng cho hai chế độ gọi là cộng hòa kéo dài 20 năm, từ năm 1955 đến 1975. Xin nhắc lạI ở đây cái định nghĩa căn bản thế nào là cộng hòa để từ đó ta có thể so sánh xem những chế độ của miền nam VN có xứng đáng được gọi là chế độ cộng hòa hay không. Cộng hòa là nói đến một hệ thống chính trị hay một hình thái chính phủ trong đó người dân chọn người đại diện cho mình để điều hành đất nước. Và mọi người dân có quyền tự do và bình đẳng chọn lựa những người đại diện cho mình thì gọi là dân chủ. Chế độ đầu tiên là chế độ Diệm kéo dài tám năm, từ 1955 đến 1963. Ta hãy xét xem con đường đưa đến sự cầm quyền và cai trị của ông Diệm có chút gì gọi là “cộng hòa” hay không. Năm 1950, vì sự hửng hờ của Pháp và vì Việt Minh hăm dọa đến tính mạng của mình, Ngô Đình Diệm rời khỏi VN để sống lưu vong ở nước ngoài, cuối cùng dừng chân tại Mỹ. Nước Mỹ lúc bấy giờ vì sự bùng nổ của cuộc chiến tranh Triều Tiên và sự lộng hành của chủ nghĩa chống Cộng McCarthy đầy nghi kỵ và khủng bố, nên bị ám ảnh bởi nỗi lo sợ sự bành trướng của chủ nghĩa Cộng Sản. Cho nên Mỹ đang tìm mọi cách để ngăn chận sự bành trướng này. Trong bối cảnh ấy, Ngô Đình Diệm, là một người theo đạo Công Giáo thuần thành và có tinh thần chống Cộng Sản không khoan nhượng, được sự hậu thuẫn và đề bạt của Hồng y Francis Cardinal Spellman đã dành được sự ủng hộ của Mỹ. Năm 1954, Bảo Đại chọn Diệm làm thủ tướng theo sự đồng ý của chính phủ Eisenhower. Nhưng chỉ một năm sau đó, Diệm hất cẳng Bảo Đại bằng cuộc trưng cầu dân ý với sự gian lận rộng rãi và trắng trợn. Chính phủ Mỹ, thường tự hào là cái nôi của những giá trị cộng hòa và dân chủ dĩ nhiên làm ngơ trước sự gian lận này. Vậy là ông Diệm lên nắm quyền qua một sinh hoạt trưng cầu dân ý có vẻ là dân chủ nhưng thật sự là do gian lận mà nắm được chính quyền. Nói một cách nôm na, Mỹ đã tạo dựng nên chế độ Diệm để sử dụng nó làm tiền đồn chống Cộng ở Đông Nam Á và sau này Mỹ cho biết họ không có lựa chọn nào khác hơn là Diệm. Sau khi nắm được quyền hành thì Diệm cai trị bằng một chế độ độc tài gia đình trị, hoàn toàn xa lạ vớI cái tên Việt Nam Cộng Hòa mà ông đặt cho phần đất miền nam dướI quyền của ông. Ông tự suy tôn mình như là một vị anh hùng dân tộc. Những bài hát suy tôn Ngô tổng thống được các học sinh hát đi hát lạI hàng ngày để tôn thờ chủ nghĩa anh hùng cá nhân này: “Toàn dân VN nhớ ơn Ngô tổng thống, Ngô tổng thống, Ngô tổng thống muôn năm…” hoặc là mỗI lần thi luận văn môn Việt văn thì đều có bài luận về lờI dạy của tổng thống: “Tôi không phảI là thần thánh, tôi thức khuya, dậy sớm chăm lo công việc hàng ngày, nếu ai cũng cố gắng như vậy thì công việc quốc gia, xã hộI sẽ được tiến bộ nhanh chóng…”. Diệm đã đưa các người anh em của mình vào các chức vụ không chính thức, không có trong nội các nhưng quyền hành của họ thật bao la và lớn lao. Người em trai áp út của ông là Ngô Đình Cẩn trấn thủ ở miền Trung mà quyền hành của ông ta bao trùm hết các viên chức cao cấp của chính phủ trong vùng. Người anh, Ngô Đình Thục tuy chỉ là một tổng giám mục nhưng ảnh hưởng của ông ta vô cùng to lớn, ăn sâu vào các sinh hoạt tôn giáo cũng như chính trị. Cuối cùng là Ngô Đình Nhu, một người em khác của ông, giữ chức cố vấn kề cạnh ông trong dinh Độc lập. Mặc dù Ngô Đình Diệm là tổng thống nhưng thực quyền nằm trong tay người em này. Ngô Đình Nhu, thường được gọi một cách kính cẩn là “ông Cố Vấn” là tác giả của những lý thuyết chính trị, những chương trình hành động, những chính sách cai trị được Diệm nhất mực đồng thuận.Vợ của Nhu là Trần Lệ Xuân hành xử như là một đệ nhất phu nhân, thường có những tiếng nói và hành động lấn át cả chồng và anh chồng. Những viên chức cao cấp của chính phủ đều răm rắp tuân thủ và vâng lời sự chỉ đạo của Nhu.Việc thăng quan tiến chức hoàn toàn tùy thuộc vào mức độ trung thành vớI tổng thống. Theo đạo Công giáo và gia nhập đảng Cần Lao Nhân Vị do Nhu sáng lập là những bước phảI có cho nấc thang tiến thân của những viên chức trung, cao cấp trong guồng máy chính phủ. Các tướng tá giữ những chức vụ then chốt trọng yếu đều chịu ơn mưa móc của Diệm-Nhu và là những ngườI trung thành tuyệt đốI vớI chế độ Diệm. Quốc hộI và tòa án chỉ là công cụ của Diệm không hơn không kém. DướI áp lực của các phe phái chính trị trong nước và của Mỹ, Diệm buộc lòng phảI tổ chức bầu cử quốc hộI vào năm 1959 vớI Phan Quang Đán là đốI thủ duy nhất. Đán đã thắng Diệm vớI số phiếu bầu áp đảo 6-1, nhưng khi quốc hộI nhóm họp để chọn tổng thống thì Diệm ra lệnh bắt giam Đán vì cho là Đán đã gian lận bầu cử.

Ngay sau khi nắm quyền, Diệm tức khắc phát động chiến dịch “Tố Cộng” kéo dài từ 1955 đến 1960 bắt bớ, tra tấn, tù đày hàng chuc ngàn ngườI bị tình nghi là Việt Cộng hoặc là cảm tình viên mà thật ra đa số là bị bắt lầm. Từ 1955 đến 1957, khoảng 12 ngàn người bị giết vì tình nghi là Việt Cộng. Sự ra đờI của Mặt Trận Dân Tộc GiảI Phóng Miền Nam vào năm 1960 một phần là hệ quả của sự căm thù của dân chúng do chiến dịch này gây nên. Ấp Bắc là trận thử lửa quân sự đầu tiên giữa lực lượng MTGPMN và chính quyền Diệm xảy ra vào tháng Giêng năm 1963. Một lực lượng đông đảo trang bị đầy đủ súng đạn tân tiến của Diệm đã bị một nhóm nhỏ của quân GiảI Phóng đánh cho tơi tả, khiến cho Mỹ rất quan ngạI về khả năng chiến đấu của quân độI Diệm. Hai cuộc đảo chánh nhằm lật đổ Diệm vào năm 1960 do nhóm Vương Văn Đông, Nguyễn Chánh Thi và Phạm Văn Liễu cầm đầu, và vào năm 1962 dinh Độc lập bị ném bom bởI hai phi công Nguyễn Văn Cử và Phạm Phú Quốc không thành công nhưng đã gây cho hai anh em Diệm Nhu mốI ám ảnh và lo sợ bị đảo chánh. Hai sự kiện đảo chánh và Ấp Bắc khiến cho Mỹ nghi ngờ Diệm vì quá tập trung vào những kế hoạch ngăn ngừa đảo chánh mà lơ là trong cố gắng tiêu diệt Việt Cộng.

Toàn bộ một gia đình Công giáo cai trị một đất nước mà tuyệt đạI đa số dân chúng không phảI là Công giáo đã áp đặt lên khốI dân chúng này những chính sách kỳ thị, đăc biệt là đốI vớI Phật giáo. Một triệu ngườI Công Giáo di cư từ Bắc vào đã được hưởng những chính sách ưu đãi về ruộng đất và những chính sách hỗ trợ khác đã gây nên sự ganh tị từ phía lương dân. Các giáo xứ Công Giáo được hưởng những đặc quyền đặc lợI mà các tôn giáo khác không có được. Sự thao túng quyền thế vượt ra khỏI phạm vi hành đạo của các giám mục, linh mục Công giáo xảy ra khắp nơi. Sự bất mãn của những ngườI theo đạo Phật lên đến cực điểm khi chính quyền Diệm ngăn cấm họ treo cờ Phât giáo để mừng lễ Phật Đản 1963 tại Huế, trong khi không lâu trước đó cờ của Tòa Thánh Vatican được treo cùng khắp để mừng ngày kỷ niệm Ngô Đình Thục nhậm chức Tổng giám mục địa phận Huế, làm bùng nổ hàng loạt các cuộc biểu tình của lực lượng Phât giáo để phản đốI sự kỳ thị này và bị đàn áp thẳng tay. NộI tình càng ngày càng rối beng vì phản ứng mạnh mẻ lạI từ phía Phật giáo đã gây nên những phản ứng bất lợI cho Diệm trong dân chúng Mỹ và dư luận thế giới, trong khi đó thì lực lượng Việt Cộng càng lúc càng mạnh, khống chế và kiểm soát thêm nhiều phần đất dướI quyền kiểm soát của quân độI Diệm khiến cho Mỹ đi đến quyết định thay thế Diệm. Các tướng lãnh từng là những kẻ chịu ơn mưa móc vớI Diệm đã được Mỹ bật đèn xanh làm cuộc đảo chánh thành công. Anh em Diệm- Nhu bị thảm sát bởi những kẻ chịu ơn đã phản bội lại ông vào ngày 2 tháng 11 năm 1963, mở màn cho giai đoạn hai của chính thể VNCH.

Nền đệ nhất cộng hòa của Diệm không có “một chút gì” gọI là cộng hòa cả. Mỹ đã chọn Diệm vì Diệm là kẻ chống Cộng sừng sỏ nhất và vì cũng không có lựa chọn nào khác, và đã để Diệm cai trị miền nam vớI một hệ thống chính trị độc tài gia đình trị, thực hiện những chính sách thiên vị rõ rệt dành cho khốI ngườI thiểu số Công Giáo. Tưởng đâu sau Diệm thì tình hình sẽ sáng sủa hơn nhưng ngược lạI là một chuỗI xáo trộn do các tướng tá tranh giành quyền lực lẫn nhau. Năm 1964, Nguyễn Khánh đảo chánh lật đổ Dương Văn Minh, đến tháng chín cùng năm này thì Khánh bị tướng Dương Văn Đức và hai đạI tá Lâm Văn Phát và Phạm Ngọc Thảo đảo chánh nhưng thất bại. CuốI cùng Khánh bị loạI trừ bởI cuộc đảo chánh do Nguyễn Cao Kỳ cầm đầu vớI sự đồng ý ngầm của Mỹ vào năm 1965. Năm 1967, vớI sự cảnh cáo và dàn xếp của Mỹ, Nguyễn Văn Thiệu và Kỳ vốn đã không ưa nhau, tạm thờI kết hợp nhau trở thành tổng thống và phó tổng thống của nền đệ nhị cộng hòa này. Bốn năm sau, 1971, Thiệu tổ chức bầu tổng thống nhưng trước đó đã đưa ra những luật lệ ứng cử rất khắc khe để hạn chế tối đa số người muốn ra tranh cử với Thiệu. Kết quả là không ai ra tranh cử với Thiệu, kể cả Kỳ như là một hình thức tẩy chay cuộc bầu cử. Tuy nhiên Thiệu vẫn cho tiếp tục cuộc bầu cử chỉ có một mình Thiệu là ứng cử viên và dĩ nhiên Thiệu tái đắc cử! Dưới thời Thiệu cũng có quốc hội gồm thượng và hạ viện, nhưng Nguyễn Cao Thăng, một dược sĩ giàu có, là kinh tài đắc lực của Thiệu đã dùng tiền mua chuộc hầu hết các dân biểu để ủng hộ Thiệu, mà dân chúng gọi họ là “nghị gật” hay “nghị gia nô”. Một số rất ít dân biểu đối lập như Ngô Công Đức, Hồ Ngọc Nhuận, Lý Quý Chung, Trương Đình Dzu thì bị bắt bớ, giam cầm. Như vậy chính quyền Thiệu cũng có quốc hội, cũng có bầu bán làm như là dân chủ nhưng thật sự chỉ là những màng bịp bợm, xảo trá. Cho nên giai đoạn hai của chế độ VNCH là sự nối dài của chế độ Diệm mà không có Diệm. Và lại còn tệ hơn vì ít ra dưới thời Diệm còn có kỷ cương bởi Diệm- Nhu có đủ uy thế để duy trì sự tuân thủ của các tướng tá dưới quyền. Những tay độc tài quân sự (military junta) lần lượt tranh nhau cai trị miền nam. Hầu hết đám tướng tá của VNCH xuất thân từ các trường đào tạo của Pháp, đặt dưới quyền chỉ huy của Pháp, và phục vụ đắc lực cho thực dân Pháp. Và truyền thống tay sai này được nối tiếp với người chủ mới là Mỹ. Đối với họ chỉ có quyền lợi và tham vọng riêng tư, chẳng đếm xỉa gì đến quyền lợi của dân tộc và đất nước. Danh từ “quốc gia” mà họ thường khoe khoang để đối nghịch lại với “cộng sản” ám chỉ rằng họ là những người có tinh thần quốc gia, đặt quyền lợi của dân tộc lên trên hết chỉ là dối trá, mị dân. Cứ chống Cộng triệt để theo yêu cầu của Mỹ thì Mỹ sẽ làm ngơ để tha hồ vơ vét. Và ông chủ Mỹ cũng thừa biết bản chất của đám tướng tá này, cho nên Mỹ dùng họ mà chẳng có chút gì kính trọng họ. Theo tài liệu của Pentagon papers, trong một buổi triệu tập các tướng tá VNCH do một đại tá Mỹ chủ tọa, viên đại tá này đã có những lời miệt thị mà không có phản ứng nào từ cái đám tướng tá chỉ biết gục đầu, miệng câm như hến kia. Khi còn Diệm thì nịnh bợ để được thăng quan tiến chức, hết Diệm thì tranh ăn với nhau. Bản thân Thiệu và những tướng tá thân cận đều là những tay tham nhũng gộc. Các tướng Đỗ Cao Trí, Trần Thiện Khiêm, Nguyễn Văn Toàn, Phạm Quốc Thuần, Hoàng Xuân Lãm, Vĩnh Lộc, Lữ Lan, Đặng Văn Quang…nổi tiếng là tham nhũng. Càng tham nhũng càng được lên chức! Vợ của Thiệu và Khiêm cầm đầu những đường dây buôn lậu qui mô có quân cảnh hộ tống. Chiến tranh VN càng lúc càng leo thang. Guồng máy chiến tranh hoàn toàn do Mỹ chỉ đạo và điều hành. Từ con số 2000 cố vấn Mỹ vào năm 1961 đến 16,500 vào năm 1964 đến 200,000 vào cuốI năm 1965, và cao điểm nhất là 537,000 ở cuốI năm 1968. Một khối lượng quân nhu quân cụ không lồ và các vật dụng cần thiết khác cho đoàn quân nửa triệu này liên tục ào ạt đổ vào miền nam, cộng thêm số tiền viện trợ kếch xù của Mỹ đã tạo nên những cơ hội béo bở cho các tướng tá VNCH vốn đã tham nhũng thì nay tha hồ tham nhũng. Mua quan bán chức là chuyện bình thường. Nạn lính ma lính kiểng lan tràn khắp các đơn vị tác chiến. Trung đội trưởng hối lộ cho đại đội trưởng, đại đội trưởng hối lộ cho tiểu đoàn trưởng, tiểu đoàn trưởng hối lộ cho trung đoàn trưởng… và cứ thế từ trên xuống dưới, từ dưới lên trên cá mè một lứa. Đời sống gia đình của tướng tá thì quyền thế, sang trọng, giàu có hơn hẵn một trời một vực so với gia đình của lính tráng sống chen chúc trong các trại gia binh. Tướng và lính là một cách biệt xa vời, chỉ có mệnh lệnh và hách dịch chứ không bao giờ có sự gần gũi, cảm thông. Lính sợ tướng như sợ cọp! Các con của tướng tá thì được gởi đi du học ở ngoại quốc để tránh bị đi lính. Hầu như toàn bộ chi phí điều hành của chính quyền VNCH là từ tiền viện trợ Mỹ. Nền kinh tế VNCH là con số không to tướng. Sinh hoạt thị trường là sinh hoạt tự do rừng rú, cá lớn nuốt cá bé. Số người làm giàu đặc biệt là người Hoa đa phần là nhờ vào đầu cơ, tích trữ, buôn lậu, hối lộ. Xã hội chỉ có chống Cộng vì tiền đã tạo nên một tầng lớp quyền thế, giàu có, ăn trên ngồi trốc, trịch thượng, và khinh người, cách biệt hẳn với đa số quần chúng thấp cổ bé miệng, lam lũ, nghèo khổ. Miền nam dưới quyền cai trị của cái gọi là “đệ nhất và đệ nhị cộng hòa” là hoàn toàn xa lạ với những giá trị cộng hòa, dân chủ cao quí theo định nghĩa của nó. Là sự gối đầu nhau của hai nền độc tài nô dịch: gia đình trị và quân phiệt. Là một cánh hoa chùm gởi, sống nhờ vào “cây cổ thụ” Mỹ không hơn không kém. Khi cánh hoa này bị tách khỏi cây cổ thụ thì chỉ có chết là con đường không tránh khỏi. Khi cánh hoa chùm gởi này chết lại càng làm lộ rõ thêm cái bản chất lệ thuộc, tay sai, và hèn hạ của nó. Tướng tá lần lượt hè nhau chạy trốn. Mới ngày trước thì tuyên bố hùng hồn, tử thủ thì ngày sau đã chuồn mất. Cái đám tàn binh mà một thời được tuyên dương là hào hùng, gan dạ lập tức hiện nguyên hình là một bọn ô hợp, một lũ cướp của giết người không gớm tay trên đường rút chạy.

Thế đấy, đó là tóm tắt những gì mà lá cờ vàng ba sọc đỏ đại diện. Sự thật thì đau lòng lắm, không muốn nhắc vì nhắc lại chỉ làm đau nhiều người nhất là những ai đã bị té thật nặng vì đã từng ngồi trên cao và hống hách. Nhưng nếu không nói ra thì cứ tưởng mình là kẻ “chính chuyên” lắm vậy. Bốn mươi năm là thời gian đủ lâu để quên đi những điều nhục nhã, không đáng nhớ. Ngay cả những người chiến thắng người ta cũng sẵn lòng quên đi dùm cho. Vậy mà cứ ra rả cái mồm, giương cao ngọn cờ mà đáng lẽ nếu còn chút liêm sỉ thì phải cảm thấy xấu hổ với cái lá cờ này. Lịch sử đã sang trang, VNCH đã chết. Hãy để là cờ chết theo nó.

Biểu Tình
3/22/2012

 
Comments Off on Cờ vàng ba sọc đỏ biểu tưởng cho cái gì?

Posted by on Tháng Hai 7, 2014 in Human Rights Watch

 

Thẻ: , , , , , , , , , , ,

Bình luận đã được đóng.

 
%d bloggers like this: